Để đánh giá toàn diện, đầy đủ được sự cố gắng vượt bậc , sự hy sinh lớn lao của tập thể thầy và trò khoa Cơ khí đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước. Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những chặng đường mà lớp lớp thầy trò chúng ta đã đi qua kể từ ngày hai khoa Cơ và Điện được sinh ra từ một cái nôi ban đầu – Liên ngành Cơ Điện của Trường Đại học Cơ Điện mến yêu của chúng ta.
Khoa Cơ khí trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên được hình thành từ sự phát triển của ngành Cơ khí thuộc trường Đại học Cơ điện Bắc Thái từ những ngày đầu thành lập trường (6-12-1965).
Hôm nay trong không khí vui mừng phấn khởi kỷ niệm 37 năm thành lập khoa Cơ khí, mỗi người chúng ta không khỏi xúc động, tự hào khi nhìn lại chặng đường 37 năm đã đi qua. Để đánh giá toàn diện, đầy đủ được sự cố gắng vượt bậc , sự hy sinh lớn lao của tập thể thầy và trò khoa Cơ khí đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước. Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những chặng đường mà lớp lớp thầy trò chúng ta đã đi qua kể từ ngày hai khoa Cơ và Điện được sinh ra từ một cái nôi ban đầu – Liên ngành Cơ Điện của Trường Đại học Cơ Điện mến yêu của chúng ta.
ØGiai đoạn 1972 - 1975
Ngày 30/10/1972, lễ công bố quyết định thành lập khoa Cơ khí được tiến hành trọng thể trong một căn nhà lá đơn sơ của khu Hiệu bộ trường Đại học Cơ Điện, đóng trên xã Tích Lương, TP Thái Nguyên, Quyết định này là một mốc son đánh dấu quá trình phát triển của Khoa Cơ khí và trường Đại học Cơ Điện, tiền thân của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp ngày nay. Vừa mới thành lập được một thời gian ngắn, khoa Cơ khí cũng như Trường ta phải cùng với cả nước chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Bị thua đau ở chiến trường Miền Nam, giặc Mỹ điên cuồng bắn phá miền Bắc mà đỉnh điểm là cuộc tập kích tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và Khu Gang thép Thái Nguyên. Để duy trì việc dạy và học và đảm bảo an toàn cho thầy và trò, ngày 18/12/1972 Khoa Cơ khí phải sơ tán vào xóm Bá Vân và xóm Bình Định thuộc xã Bình Sơn - thị xã Sông Công; xóm Đầu Trâu xã Thịnh Đức - TP Thái Nguyên. Vào thời gian này giảng đường và phòng thí nghiệm là những căn nhà lá nằm sâu trong địa đạo, khe núi, đói rét thường xuyên rình rập nhưng thầy và trò vẫn “ tiếng hát át tiếng bom; vai kề vai, đèn sách sớm hôm”. Các lớp Sinh viên K2, K3, K4, K5 vẫn tốt nghiệp ra trường đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng. Ngày 27/3/1973, sau khi hiệp định Pari về việc lập lại hoà bình Việt Nam được ký kết, thầy trò khoa Cơ khí trở về xây dựng mái trường trên mảnh đất thân yêu của mình. Sinh viên K8, K9 tựu trường được sống và học tập trong những khu nhà tầng kiên cố A1, A2, A3 và thực hành thí nghiệm trong khu nhà C1, C2, C3 chan hòa ánh điện, rộn vang tiếng máy. phong trào học tập sôi nổi hơn lúc nào hết. Công tác NCKH bắt đầu phát triển, những sản phẩm khoa học đầu tiên: Đề tài nghiên cứu chế tạo phong điện của nhóm đề tài: Nguyễn Hữu Hùng (BM Vật lý), Trịnh Quang Vinh, Trần Văn Lầm (BM Nguyên lý máy), Ngô Quang Vinh (BM Sức bền); kết hợp với Đề tài nghiên cứu chế tạo màng mỏng CDS làm đèn quang điện của nhóm đề tài: Nguyễn Thư Xá, Phạm Phú Thùy, Nguyễn Công Hòa, Nguyễn Thị Vân (BM Vật lý) đã chế tạo thành công đèn biển lắp tại vùng biển đảo Long Châu thành phố Hải Phòng (theo đặt hàng của Bộ Giao thông Vận tải), phục vụ kịp thời cho sự nghiệp bảo vệ vùng biển của Tổ quốc trong những ngày chiến tranh ác liệt.
ØGiai đoạn 1972 - 1975
Ngày 30/10/1972, lễ công bố quyết định thành lập khoa Cơ khí được tiến hành trọng thể trong một căn nhà lá đơn sơ của khu Hiệu bộ trường Đại học Cơ Điện, đóng trên xã Tích Lương, TP Thái Nguyên, Quyết định này là một mốc son đánh dấu quá trình phát triển của Khoa Cơ khí và trường Đại học Cơ Điện, tiền thân của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp ngày nay. Vừa mới thành lập được một thời gian ngắn, khoa Cơ khí cũng như Trường ta phải cùng với cả nước chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Bị thua đau ở chiến trường Miền Nam, giặc Mỹ điên cuồng bắn phá miền Bắc mà đỉnh điểm là cuộc tập kích tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và Khu Gang thép Thái Nguyên. Để duy trì việc dạy và học và đảm bảo an toàn cho thầy và trò, ngày 18/12/1972 Khoa Cơ khí phải sơ tán vào xóm Bá Vân và xóm Bình Định thuộc xã Bình Sơn - thị xã Sông Công; xóm Đầu Trâu xã Thịnh Đức - TP Thái Nguyên. Vào thời gian này giảng đường và phòng thí nghiệm là những căn nhà lá nằm sâu trong địa đạo, khe núi, đói rét thường xuyên rình rập nhưng thầy và trò vẫn “ tiếng hát át tiếng bom; vai kề vai, đèn sách sớm hôm”. Các lớp Sinh viên K2, K3, K4, K5 vẫn tốt nghiệp ra trường đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng. Ngày 27/3/1973, sau khi hiệp định Pari về việc lập lại hoà bình Việt Nam được ký kết, thầy trò khoa Cơ khí trở về xây dựng mái trường trên mảnh đất thân yêu của mình. Sinh viên K8, K9 tựu trường được sống và học tập trong những khu nhà tầng kiên cố A1, A2, A3 và thực hành thí nghiệm trong khu nhà C1, C2, C3 chan hòa ánh điện, rộn vang tiếng máy. phong trào học tập sôi nổi hơn lúc nào hết. Công tác NCKH bắt đầu phát triển, những sản phẩm khoa học đầu tiên: Đề tài nghiên cứu chế tạo phong điện của nhóm đề tài: Nguyễn Hữu Hùng (BM Vật lý), Trịnh Quang Vinh, Trần Văn Lầm (BM Nguyên lý máy), Ngô Quang Vinh (BM Sức bền); kết hợp với Đề tài nghiên cứu chế tạo màng mỏng CDS làm đèn quang điện của nhóm đề tài: Nguyễn Thư Xá, Phạm Phú Thùy, Nguyễn Công Hòa, Nguyễn Thị Vân (BM Vật lý) đã chế tạo thành công đèn biển lắp tại vùng biển đảo Long Châu thành phố Hải Phòng (theo đặt hàng của Bộ Giao thông Vận tải), phục vụ kịp thời cho sự nghiệp bảo vệ vùng biển của Tổ quốc trong những ngày chiến tranh ác liệt.









